Giáo dục cho mọi người
Một số vấn đề về xây dựng XHHT và xây dựng XHHT từ cơ sở
08:17 13-09-2011

Ngày 09/9, Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề "Xây dựng xã hội học tập trên địa bàn xã, phường, thị trấn - Những mô hình học tập, khuyến học, khuyến tài cần thiết". Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm chủ trì. Tới dự có các nhà khoa học xã hội, khoa học giáo dục, lãnh đạo Ban Khoa giáo TW, Bộ Khoa học công nghệ..., và một số Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh, thành phố. Sau đây chúng tôi xin lần lượt giới thiệu cùng bạn đọc các bài tham luận của cuộc Hội thảo trên:

Tủ bếp inox, Tủ bếp inox cao cấp - Kimsinh.vn

Tu bep inox, Tu beo inox cao cap - Kimsinh.vn

 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG XHHT

VÀ XÂY DỰNG XHHT TỪ CƠ SỞ 

                                                                                        

       Cương lĩnh xây dựng Đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện để mọi công dân được học tập suốt đời”. Chỉ thị 11-CT/TW của Bộ Chính trị khóa X nhấn mạnh: “Xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là mục tiêu cơ bản trong chi?n lược chấn hưng và phát triển giáo dục ở nước ta”. Xây dựng XHHT không chỉ là yêu cầu tất yếu, khách quan của sự phát triển đất nước mà còn là xu thế của thời đại khi loài người đang bước vào cuộc cách mạng khoa học – công nghệ lần thứ III, thời kỳ hậu công nghiệp, chuyển dần sang n?n kinh tế tri thức. Đối với nước ta từ một nền công nghiệp lạc hậu, kinh tế chậm phát triển tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì xây dựng XHHT còn vừa là yêu cầu cấp bách vừa là yêu cầu chiến lược lâu dài. Có thể nói đó là sự nghiệp to lớn, trọng đại – sự nghiệp xây dựng xã hội học tập có liên quan đến vận mệnh phát triển của cả đất nước. Tuy nhiên việc xây dựng XHHT bắt đầu từ đâu, phải làm những gì, mô hình XHHT thế nào… thì mọi việc đều chưa có tiền lệ, phải định hình dần, vừa làm vừa rút kinh nghiệm và hoàn thiện. 

       Xây dựng xã hội học tập phải bắt đầu từ cơ sở và ở cơ sở. Đề án “Hội Khuyến học Việt Nam tham gia xây dựng xã hội từ cơ sở” và những kết quả bước đầu đã chứng tỏ điều đó.  Có xã hội học tập ở cơ sở thì sẽ có xã hội học tập ở huyện, tỉnh và cả nước. Xã hội học tập là mọi người đều cần học, đều được học, được tiếp cận những cơ hội học tập thuận lợi nhất với điều kiện nhà nước phải có một hệ thống cơ chế, chính sách và mở ra nhiều hình thức học tập để đáp ứng tốt nhất tất cả các yêu cầu học tập chính đáng, thường xuyên, suốt đời của mọi người dân. Do đó việc tổ chức các hình thức học tập ở gần địa bàn dân cư sinh sống cho đông đảo người dân học tập sẽ là vô cùng quan trọng. ở đây, cần phân biệt 2 khái niệm “mô hình xã hội học tập” và “mô hình tổ chức học tập”. 

 

       Mô hình XHHT phải tương ứng và phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của mỗi giai đoạn. Mô hình xã hội  học tập của nước ta xây dựng lúc này phải hướng tới mục tiêu tương đối dài cho sự phát triển đất nước, của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (khoảng 40 đến 50 năm hoặc hơn nữa) theo cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng trước hết phải đáp ứng mục tiêu gần hơn là phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011-2020, xây dựng nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Do đó, một mặt phải nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và nhân tài cho yêu cầu phát triển kinh tế theo chiều rộng (mở rộng qui mô và tăng trưởng nhanh) nhưng mặt khác phải chuyển trọng tâm và phải nhanh chóng đào tạo nhân lực có chất lượng, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế theo chiều sâu, coi trọng chất lượng và tính bền vững của sự phát triển, cấu trúc lại mô hình tăng trưởng, nâng cao hàm lượng tri thức trong mỗi sản phẩm, giảm tiêu thụ năng lượng và tài nguyên tạo nên các sản phẩm, từng bước ứng dụng những thành tựu công nghệ mới nhất, phát triển kinh tế tri thức...

       Từ đó, xác định mô hình XHHT của nước ta xây dựng phải dựa trên sự đa dạng về các hình thức tổ chức học tập; đa dạng và linh hoạt về chương trình, nội dung, thời gian học tập để đáp ứng nhu cầu học tập liên tục, thường xuyên suốt đời của đại đa số dân cư, phấn đầu phải đạt 80% dân cư đi học trở lên. Trong đố đặc biệt coi trọng nâng cao trình độ nghề cho người lao động, đảm bảo có ít nhất 70% lao động được đào tạo nghề trở lên, với một bộ phận đáng kể (khoảng 20% trở lên) có tay nghề cao, tăng số sinh viên/1 vạn dân, tăng nhanh số chuyên gia giỏi đầu ngành trên các lĩnh vực. Đồng thời đáp ứng nhiều yêu cầu cấp bách về nâng cao chất lượng cuộc sống, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, xây dựng con người Việt Nam...

       Cần xây dựng và hoàn thiện các thiết chế giáo dục đa dạng, phù hợp, linh hoạt và hiệu quả. Trong đó, bao gồm các thiết chế giáo dục cứng (thành lập có điều kiện và được nhà nước cho phép) với nòng cốt là hệ thống giáo dục chính qui (hay còn gọi là giáo dục ban đầu) thật sự có chất lượng và hiệu quả cùng với các thiết chó giáo dục mềm (giáo dục tự nguyện) với các cấp trình độ, mục tiêu đào tạo, nội dung, phương pháp và đối tượng học rất khác nhau (hay còn gọi là giáo dục tiếp tục) trong một hệ thống giáo dục mở, liên thông, liên kết, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển. Muốn vậy, điều kiện tiên quyết là phải có một tư duy giáo dục hoàn toàn mới: “coi xây dựng xã hội học tập là mục tiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục ở nước ta”. Muốn xây dựng XHHT thành công thì phải có sự chỉ đạo, quản lý thồng nhất của nhà nước bằng các qui định pháp luật với một hệ thống tổ chức và các cơ chế, chính sách tương ứng, trong đó có cơ chế đầu tư, tài chính và nhân lực; có sự phân công, phân cấp trách nhiệm rõ ràng theo hướng dân chủ hóa. Cần phải nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của các cơ quan quản lý giáo dục với tư cách vừa là cơ quan tham mưu, vừa là cơ quan quản lý nhà nước về xã hội học tập để đáp ứng các yêu cầu về tham mưu xây dựng chiến lược phát triển giáo dục theo hướng xây dựng XHHT, chương trình, học liệu, tài liệu, trang thiết bị, chế độ quản lý, kiểm định chất lượng, dự báo yêu cầu nhân lực v.v... Đồng thời nhất thiết phải xã hội hóa, vì chỉ có XHH thì xây dựng XHHT mới thành công. Trong đó có vai trò của HKH làm nòng cốt trong vận động, tuyên truyền, phối hợp, liên kết các lực lượng và tham gia tổ chức một số mô hình tổ chức học tập có hiệu quả nhất (như TT HTCĐ chẳng hạn).

       Mô hình tổ chức học tập là những mô hình học tập cụ thể thích ứng với mỗi hoặc nhiều đối tượng cụ thể nên sẽ có rất nhiều mô hình khác nhau. Mô hình để có thể phổ biến trên diện rộng nhưng có khi chỉ có thể áp dụng trong một phạm vi hẹp  nào đó. Có những mô hình học tập trước khi có chủ trương xây dựng XHHT cũng đã tồn tại: như mô hình các lớp xóa mù chữ, các lớp bổ túc văn hóa (ban đêm, chủ nhật), mô hình bổ túc văn hóa bán tập trung ở xã, mô hình bổ túc văn hóa tập trung ở huyện, tỉnh, mô hình các câu lạc bộ, bưu điện – văn hóa xã, thư viện v.v... Nay xây dựng XHHT thì chúng ta vừa tận dụng những mô hình sẵn có còn hữu ích nhưng phải hướng nó vào mục tiêu XD XHHT, nâng cao tính hiệu quả và liên kết các hình thức đó lại để giúp cho việc học của người dân thuận lợi hơn, như giới thiệu và hướng dẫn sử dụng các tài liệu khoa học – kỹ thuật có ở thư viện xã cho học viên các lớp học ở TT HTCĐ; hướng dẫn sử dụng tài liệu phổ biến pháp luật ở TT Bưu điện – Văn hóa xã cho các lớp phổ biến pháp luật ở TT HTCĐ v.v... Mặt khác phải tìm tòi, sáng tạo, xây dựng thêm những mô hình học tập mới phù hợp...

       ở Thanh Hóa, ngay từ năm 2001, Hội Khuyến học tỉnh đã soạn thảo “Đề án xây dựng XHHT ở Thanh Hóa giai đoạn 2001-2010” báo cáo trước tập thể Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Sau thông báo kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Đề án được báo cáo trước Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh mở rộng rồi được chyển hóa thành chương trình hành động của Tỉnh ủy. Nhờ có Đề án mang tính chiến lược 10 năm nên đã định hướng cho các hoạt động cụ thể sau này. Để triển khai chủ trương của Tỉnh ủy về xây dựng XHHT, Hội Khuyến học tỉnh đã tập trung vào các việc sau:

       * Từng bước tham mưu thể chế chủ trương chiến lược của cấp ủy thành chỉ thị của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (2 Chỉ thị), Nghị quyết của HĐND tỉnh (NQ số 33), các Chỉ thị của UBND tỉnh (2 Chỉ thị), các Quyết định của UBND tỉnh (12 Quyết định). Đặc biệt là UBND tỉnh đã ban hành nhất quán, liên tục một hệ thống các cơ chế, chính sách và các văn bản chỉ đạo cụ thể của Thường trực Tỉnh ủy và Thường trực UBND tỉnh (trên 20 văn bản). Đồng thời HKH tỉnh đã ký kết liên tịch, phối hợp với các ban ngành, đoàn thể cấp tỉnh tổ chức các mặt hoạt động hoặc HKH đã tham mưu cho các ban ngành ký các văn bản tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các văn bản của cấp ủy, chính quyền đã ban hành (trên 50 văn bản).

       Hầu hết các văn bản này đều do Thường trực HKH tỉnh khởi thảo, lấy ý kiến các ban ngành, đoàn thể cấp tỉnh, tham vấn HKH và UBND cấp huyện... nên đảm bảo được sự chặt chẽ về tính pháp lý và sát hợp với thực tiễn nên có tính khả thi cao trong thực hiện và đạt hiệu quả cao.

       * Hội Khuyến học tỉnh đã coi trọng và có nhiều giải pháp tổ chức tốt công tác tuyên truyền, vận động thông qua tuyên truyền miệng của hệ thống Hội và cán bộ Hội các cấp và liên kết chặt chẽ với đoàn thể chính trị – xã hội – nghề nghiệp…, nhất là các cơ quan Báo, Đài địa phương, mỗi năm có tới cả trăm tin bài, phóng sự, chuyên trang, chuyên mục, truyền hình trực tiếp nên đã tạo ra sự nhất trí cao trong xã hội về nhận thức và sự đồng thuận cao trong hành động. Đồng thời nhờ thể chế hóa mà đã có tác dụng thúc đẩy việc xã hội h?a, tạo ra các điều kiện cho HKH tập hợp lực lượng và giải quyết được nhiều khó khăn vướng mắc trong thực hiện, tập hợp được sức mạnh của cả hệ thống chính trị, các lực lượng xã hội cùng tham gia xây dựng XHHT.

       * Từ hoạt động thực tiễn, HKH đã coi trọng xây dựng, phát hiện các mô hình, điển hình; coi trọng tổng kết thực tiễn (như sơ kết, tổng kết Chỉ thị 50; sơ kết, tổng kết TT HTCĐ; tổng kết 10 năm xây dựng Xã hội học tập ở Thanh Hóa; tổng kết phong trào gia đình hiếu học, Khu dân cư, dòng họ hiếu học v.v…) để xác định những cách làm hay, những hướng đi đúng, những sáng tạo của quần chúng để tiếp tục hoàn thiện các chủ trương, cơ chế chính sách, nâng lên thành các tiêu chí gắn với xây dựng các mô hình để nhân rộng và nâng cao chất lượng phong trào.

       Chính vì vậy ở Thanh Hóa khi tổng kết 10 năm hoạt động KH, KT, XD XHHT đã rút ra bài học kinh nghiệm tổng quát là: Biết phát huy sức mạnh tổng hợp, dựa hẳn vào dân, đem lại lợi ích ngày càng nhiều cho nhân dân và biết tiêu chí hóa, mô hình hóa, xã hội hóa, thể chế hóa các mặt hoạt động nên đã tạo ra phong trào nhân dân Khuyến học, Khuyếnn tài, xây dựng Xã hội học tập mạnh mẽ, rộng khắp.

       Chỉ th? 11-CT/TW đã khẳng định xây dựng XHHT là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân nên một mình HKH là không đủ khả năng và lực lượng để thực hiện. Vì vậy bên cạnh việc thể chế hóa, xã hội hóa, tiêu chuẩn hóa và mô hình hóa các hoạt động xây dựng XHHT, HKH Thanh Hóa còn là lực lượng khởi xướng, tham mưu thành lập, dày công đóng góp xây dựng và trực tiếp vận hành các hoạt động của TT HTCĐ ở xã phườngthị trấn; phát động và là chủ công trong phong trào xây dựng gia đình hiếu học, Khu dân cư và dòng họ hiếu học;trực tiếp tổ chức phong trào xã hội hóa xây dựng quỹ Khuyến học...

       Các TT HTCĐ muốn hoạt động có hiệu quả nhất thiết phải có 4 yếu tố là: xác định cho rõ nội dung hoạt động giáo dục phù hợp với nhu cầu học tập của nhân dân ở từng nơi, từng đối tượng; có các điều kiện đảm bảo cho TT hoạt động thường xuyên, hiệu quả; có bộ máy quản lý đủ mạnh và XHH được các lực lượng tham gia với cơ chế chính sách hợp lý. Các TT HTCĐ ở Thanh Hóa được UBND tỉnh ban hành “Qui chế tổ chức hoạt động” ngay từ đầu năm 2004, vào loại sớm nhất cả nước. Qui chế đã vừa định hướng nội dung và phương thức hoạt động vừa tạo ra các điều kiện đảm bảo cho TT phát triển. Đến nay nội dung của qui chế vẫn còn nguyên giá trị, mặc dù sau tổng kết 8 năm hoạt động của TT HTCĐ do UBND tỉnh chủ trì cũng đã kịp thời bổ sung thêm một số chi tiết mới. Trong đó đã khẳng định 5 nội dung hoạt động giáo dục của Trung tâm dựa trên nguyên tắc là tất cả những hoạt động mang tính chất giáo dục cần chuyển giao, cung cấp cho người dân của bất cứ tổ chức nào đều được đưa vào Trungtâm để truyền đạt nên các Trung tâm Học tập cộng đồng đang trở thành ngôi trường chung của cả hệ thống chính trị ở cơ sở. Năm nội dung hoạt động giáo dục của TT HTCĐ ở Thanh Hóa là:

       1. Phổ biến, tuyên truyền, giới thiệu các chủ trương của Đảng, cơ chế, chính sách, pháp luật của nhà nước, của cấp ủy, chính quyền địa phương, tổ chức các lớp học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, các lớp học về lý luận cơ sở cho cán bộ, Đảng viên, các lớp tập huấn cho Bí thư chi bộ, trưởng thôn, các đoàn thể, phổ biến thời sự v.v...

       2. Chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật, nhất là kỹ thuật canh tác nông, lâm, ngư nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng, đánh bắt hải sản, thủy sản...); các kiến thức về quản lý kinh tế thị trường, bảo quản chế biến và tiêu thụ sản phẩm, hạch toán kinh tế, mô hình kinh tế (như mô hình gia trại, trang trại, VAC...), vận hành máy móc trong nông nghiệp, phòng trtrừ dịch bệnh v.v...

       3. Tổ chức dạy nghề cho người dân, chủ yếu là các lớp dạy nghề và truyền nghề ngắn hạn hoặc là nơi đặt các lớp dạy nghề dài hạn cho các trường Trung cấp, Cao đẳng... Hiện nay tất cả các lớp dạy nghề cho nông dân theo Đề án 1956 của Chính phủ đều được đưa vào TT HTCĐ.

       4. Tổ chức các lớp dạy xóa mù chữ, bổ túc văn hóa, dạy tin học và ngoại ngữ (kể các các lớp chuẩn bị nguồn cho xuất khẩu lao động), các lớp phổ cập tin học cho cán bộ xã và người dân ...

       5. Tổ chức các chuyên đề về nâng cao chất lượng cuộc sống như các lớp về phục hồi vốn văn hóa truyền thống (dân ca, ca trù, múa hát...); bảo vệ di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, qui ước và tiêu chuẩn gia đình văn hóa, làng văn hóa...; các kiến thức bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, an toàn thực phẩm; các kiến thức về bảo vệ sức khỏe, thể dục thể thao (dưỡng sinh)....

       Các TT HTCĐ ở Thanh Hóa đang là một mô hình học tập quan trọng giúp cho người dân thực hiện công bằng về cơ hội và điều kiện học tập, cần gì học nấy, góp phần đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tại chỗ, nhất là nông dân, tạo điều kiện xây dựng XHHT từ cơ sở . Như vậy là các TT HTCĐ ở Thanh Hóa đang vươn tới đáp ứng các nhu cầu học tập nhiều mặt của cộng đồng dân cư ở mỗi cơ sở mà không phải hình thành ra nhiều mô hình học tập trên cùng một địa bàn. Vì bản thân cấp xã hiện nay cũng chưa đủ khả năng điều hành và quản lý nhiều đầu mối học tập, đào tạo...

       Với sự tham mưu của HKH tỉnh, UBND tỉnh đã sớm ban hành“Các tiêu chuẩn công nhận gia đình hiếu, Khu dân cư, dòng họ hiếu học và thẩm quyền công nhận các danh hiệu đó”. Các mô hình gia đình hiếu học, Khu dân cư, dòng họ hiiếu học không chỉ sớm được tiêu chuẩn hóa mà còn được hoàn thiện theo hướng nâng cao chất lượng và phân cấp: mô hình phổ cập do cấp xã công nhận, mô hình tiêu biểu do cấp huyện công nhận và mô hình tiêu biểu xuất sắc do cấp tỉnh công nhận. Thanh Hóa coi trọng cả xây dựng Dòng họ hiếu học và làng, bản, khu phố hiếu học (gọi tắt là Khu dân cư hiếu học) vì mỗi mô hình đều có lợi thế và tác dụng riêng, không thể thay thế cho nhau được và càng không nên chỉ tập trung vào chỉ đạo xây dựng dòng họ hiếu học. Vì cùng với gia đình hiếu học, làng bản, dòng họ hiếu học là nền tảng căn bản nhất xây đắp nên truyền thống hiếu học ở mỗi địa phương và cả nước. 

       Nhờ tiêu chuẩn hóa, mô hình hóa, thể chế hóa và xã hội hóa việc xây dựng gia đình hiếu học, Khu dân cư, dòng họ hiếu học nên phong trào này không còn là việc riêng của HKH mà ủa sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của cấp ủy, chính quyền, có sự tham gia tích cực của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể xã hội. Các danh hiệu hiếu họcở Thanh Hóa đã trở thành danh hiệu của nhà nước, do chính quyền công nhận và vinh danh. Hội Khuyến học có vai trò phát động, chỉ đạo, hướng dẫn phong trào và cùng với MTTQ bình xét, đề nghị UBND các cấp xét công nhận, cấp giấy công nhận. Việc mở Đại hội tôn vinh các danh hiệu hiếu học do Hội Khuyến học chuẩn bị nội dung nhưng UBND các cấp cùng với HKH chủ trì tổ chức. UBND các cấp cấp kinh phí để in giấy công nhận, tặng giấy khen hoặc bằng khen, cấp kinh phí mở Đại hội v.v...

       Ngày mở Đại hội tôn vinh các danh hiệu hiếu học trở thành ngày hội tôn vinh truyền thống hiếu học của nhân dân mỗi nơi. Đặc biệt ở Thanh Hóa đã hình thành và đang đưa vào nền nếp qui trình liên hoàn: đăng ký danh hiệu, bình xét, cấp giấy công nhận, ghi danh vào sổ vàng truyền thống và mở Đại hội tôn vinh. Cho đến nay cả tỉnh có 371.216 hộ đăng ký và có 239.228 gia đình hiếu học được công nhận; 5.166 Khu dân cư, 6.706 dòng họ đăng ký và có 3.137 Khu dân cư hiếu học, 4.368 dòng họ hiếu học được công nhận. Chính vì vậy phong trào đã góp phần nâng cao nhận thức của nhân dân và coi trọng sự học, chăm lo cho con cháu được học hành tốt hơn. Sự nghiệp quốc sách hàng đầu không còn chỉ ở tầm vĩ mô mà đang trở thành động lực của các gia đình, dòng họ, Khu dân cư, cơ quan, Doanh nghiệp và mỗi địa phương.

       Thanh Hóa đã sớm mô hình hóa, xã hội hóa và thể chế hóa việc xây dựng quỹ Khuyến học. Hội Khuyến học tỉnh đã soạn thảo và trình UBND tỉnh phê duyệt “Đề án phát triển quỹ Khuyến học giai đoạn 2007-2015 phục vụ nhiệm vụ xây dựng XHHT”. Toàn tỉnh đã có trên 80% số xã, phường, thị trấn và 3/4 số huyện thị thành phố đã có Nghị quyết của HĐND và vận động toàn dân  xây dựng quỹ Khuyến học. Do đó ở Thanh H?a đã hình thành đa dạng các loại mô hình quỹ Khuyến học: từ ống tiết kiệm Khuyến học gia đình (quỹ Khuyến học gia đình); Quỹ của các dòng họ, Khu dân cư, đồng hương, đồng ngũ, cựu học sinh, sinh viên, quỹ của các cơ quan, Doanh nghiệp, lực lượng vũ trang, cấp xã, huyện, tỉnh... Quỹ Khuyến học do Doanh nghiệp, Doanh nhân, cá nhân; Quỹ của các Hiệp Hội Doanh nghiệp liên kết với Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh và Hội Khuyến học tỉnh đồng sáng lập... khắp nơi có quỹ Khuyến học.

       Có nhiều hình thức vận động xây dựng quỹ: mở chợ, trồng cây, nuôi cá... gây quỹ Khuyến học; Vận động cán bộ viên chức, các hộ kinh tế khá, giàu ủng hộ quỹ Khuyến học hàng năm, vận động Doanh nhân, cá nhân thành đạt ở trong, ngoài tỉnh, ngoài nước ủng hộ quỹ Khuyến học... Việc xã hội hóa xây dựng quỹ Khuyến học đã đem lại kết quả cao, đạt được số tiền lớn. Nhờ vậy trong hơn 11 năm qua ở Thanh Hóa đã xây dựng được trên 460 tỷ đồng quỹ Khuyến học (riêng 3 năm 2009, 2010, 2011 mỗi năm cả tỉnh xây dựng được 75 tỷ đến 78 tỷ đồng quỹ Khuyến học). Do đó có hàng chục vạn học sinh, sinh viên nghèo được nhận học bổng; hàng triệu học sinh, sinh viên giỏi, hàng vạn giáo viên giỏi được HKH khen thưởng. Chỉ riêng 2 học sinh đạt Huy chương vàng Olimpic quốc tế môn toán năm 2008 cùng giáo viên trực tiếp dạy và trường Lam Sơn mà HKH đã vận động các tập thể, cá nhân, Doanh nhân thưởng tới 658 triệu đồng… 

       Việc xã hội hóa xây dựng quỹ Khuyến học đã tạo nên một sức mạnh xã hội to lớn và đang trở thành một loại quỹ xã hội chăm lo cho sự nghiệp trồng người, góp phần giảm nghèo bền vững, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục đào tạo và xây dựng đội ngũ nhà giáo... 

       Tất cả các mô hình học tập và mô hình Khuyến học do Hội Khuyến học Thanh Hóa khởi xướng, được các lực lượng xã hội, được đông đảo các tầng lớp nhân dân ủng hộ, hưởng ứng tham gia và trở thành chủ trương, nhiệm vụ, cơ chế chính sách của cấp ủy, chính quyền... là một thành công lớn của việc xã hội hóa xây dựng XHHT và Khuyến học, Khuyến tài. Kết quả của các hoạt động đó không chỉ tác động sâu sắc, trực tiiếp đến giáo dục mà còn góp phần vào phát triển kinh tế, an sinh xã hội và ổn định chính trị của địa phương.

       Để việc xây dựng XHHT tốt hơn nữa, chúng tôi xin đề nghị:

       1. Chủ trương của Đảng là “phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo”. Do đó trong cải cách giáo dục lần này trước hết phải đổi mới tư duy giáo dục theo hướng xây dựng XHHT, không nên chỉ loay hoay vào thay đổi chương trình, sách giáo khoa (mặc dù là cần thiết và rất quan trọng) mà phải hình thành và xây dựng cho được hệ thống giáo dục ban đầu và giáo dục tiếp tục theo hướng mở, có sự liên thông, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau. Do đó rất cần thành lập một cơ quan quản lý nhà nước đủ tầm đối với xây dựng XHHT như thành lập “Tổng cục xây dựng XHHT” hoặc “Tổng cục giáo dục suốt đời” trực thuộc Bộ giáo dục. 

       2. Đề nghị nghiên cứu chiếnn lược quốc gia về giáo dục suốt đời với các cơ chế, chính sách toàn diện; trong đó có cơ chế đầu tư, tài chính, nhân lực, chương trình, học liệu, tài liệu, thiết bị, cơ chế quản lý, phân công, phân cấp... rõ ràng.

       Đề nghị giành khoảng 5% ngân sách sự nghiệp giáo dục hàng năm (trở lên) cho giáo dục suốt đời (bao gòm cả kinh phí TT HTCĐ thật thỏa đáng).

       3. Đi đôi với việc tăng cường vai trò quản lý nhà nước, đề nghị cần có cơ chế xã hội hóa xây dựng XHHT thật rõ ràng. Cần xác định rõ vai trò của các cấp chính quyền, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan quản lý giáo dục, của các ngành chức năng khác và vai trò của các đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp; trách nhiệm xã hội của mỗi tổ chức và công dân gắn chặt với qui hoạch đào tạo, sử dụng cán bộ của Đảng và nhà nước, đào tạo và sử dụng nhân lực, nhân tài, với công tác thi đua khen thưởng v.v... trong đó có việc làm rõ vai trò nòng cốt của HKH đến đâu?

       4. Đề nghị nâng tầm mô hình TT HTCĐ thành một thiết chế quan trọng của giáo dục thường xuyên, có sự chỉ đạo và quản lý thống nhất, chặt chẽ, có cán bộ quản lý chuyên trách được đào tạo bồi dưỡng, có các điều kiện đảm bảo tương ứng đồng thời phải coi trọng xã hội hóa các mặt hoạt động.

       5. Đề nghị cần sớm nghiên cứu để đưa 1 bộ các tiêu chí công nhận một xã (phường, thị trấn) đạt chuẩn xã hội học tập. Từ đó làm căn cứ để tổ chức kiểm tra, đánh giá, xét và công nhận.

Nguyễn Đình Bưu

Chủ tịch Hội Khuyến học Thanh Hóa


 

Các tin liên quan
 Xây dựng xã hội học tập phải là điều kiện tiên quyết để xây dựng nông thôn mới
 “Đẩy mạnh xây dựng XHHT, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời"
 Một vài suy nghĩ về những điều cần thiết ở cơ sở trong việc tổ chức học tập suốt đời cho nhân dân
 Thái Nguyên: Mô hình khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập theo
 Việt Nam tổ chức Tuần lễ hưởng ứng Học tập suốt đời
 Xây dựng Xã hội học tập tại một xã vùng cao của đồng bào H'Mông tỉnh Sơn La
 Xây dựng xã hội học tập
 Hội thảo khoa học xây dựng tiêu chí đánh giá xếp loại Trung tâm học tập cộng đồng lần thứ IV năm 2011
 Trung tâm học tập cộng đồng: Cần gì để gần dân?
 Cần khoảng 2.135 nghìn tỷ đồng để phát triển nguồn nhân lực
Tổng số: 41  Trang 1 2 3 4 5  »
TIN HOT
Trao 300 suất học bổng “Ươm mầm đại thụ Việt Nam” cho...
Ngày 22/10/2011, tại Nhà thiếu nhi quận Bình Thạnh, Hội Khuyến học (HKH) TPHCM...
HKH quận 1: Ngày hội khuyến học lần II và trao học bổng năm...
Hội khuyến học quận 1 đã tổ chức Ngày hội khuyến học lần II và trao...
HKH quận Tân Phú: Tuyên dương 76 gia đình hiếu học năm 2011
Ngày 13/10/2011, Hội Khuyến học (HKH) quận Tân Phú tổ chức Hội nghị...
Giao ban công tác khuyến học với 24 quận, huyện
Ngày 12/10/2011, Hội Khuyến học (HKH) Thành phố họp Giao ban công tác...
HKH quận Phú Nhuận: Đại hội Tuyên dương Gia đình hiếu học...
Ngày 8/10/2011, tại hội trường nhà văn hóa quận Phú Nhuận, Hội Khuyến...
HKH quận 10 kỷ niệm 15 năm thành lập Hội Khuyến học Việt Nam
Ngày 7/10/2011, tại hội trường UBND quận 10, Hội Khuyến học (HKH) quận 10 tổ chức...
Nhà tài trợ
Xem tiếp
ỨNG VIÊN HỌC BỔNG
Quảng cáo
 
 
 
Hội Khuyến Học Thành Phố Hồ Chí Minh.Địa chỉ: 66-68 Lê Thánh Tôn, Quận 1
Điện thoại/Fax: 08.38294206 - 08. 38291704. Email: hoikhuyenhoctphcm@yahoo.com
Giấy phép thiết lập trang tin điện tử trên Internet số 14/GP-BC